Banner
Thông báo chiêu sinh
Lớp Tiểu giáo viên chăn nuôi bò thịt
Liên kết web
Video
Quảng cáo

KẾT QUẢ TRỒNG THỬ NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG CỎ HÒA THẢO NHẬP NỘI TỪ ÚC TẠI TRUNG TÂM GIA SÚC LỚN BÌNH DƯƠNG

KẾT QUẢ TRỒNG THỬ NGHIỆM MỘT SỐ GIỐNG CỎ HÒA THẢO NHẬP NỘI TỪ ÚC TẠI TRUNG TÂM GIA SÚC LỚN BÌNH DƯƠNG
 
Đinh Văn Cải,  Nguyễn Thi Thu Hồng và Nguyễn Thị Mận[2]
 
A TRIAL OF SOME GRASSES IMPORTED FROM AUSTRALIA TO
GROW AT BINH DUONG RESEARCH CENTER
An experiment has been carried out at Ruminant Research and Training Center from June 2004 to April 2006 to evaluate the production of forteen imported grasses. The results showed that Brichiaria Brizantha x ruziziensis was the best grass in term of yield and leaf percentage, followed by Digitaria milanjiana cv Jarra and Digitaria milanjiana cv 59755. Setaria did not perform well and should not be recommended for the areas where have similar condition as the study site.
 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đã có trên 160 giống cỏ được nghiên cứu làm thức ăn gia súc. Tuy vậy, chỉ có một số ít giống cỏ đã được trồng phổ biến làm đồng cỏ thâm canh thu cắt như cỏ Voi, cỏ Sả, cỏ Paspalum và cỏ Ruzi. Các giống cỏ sử dụng cho mục đích trồng để chăn thả còn rất ít. Trước đây có giống Pangola, gần đây có giống cỏ Jarra và Signal (từ Úc) tỏ ra có triển vọng vì khả năng lấn át các cỏ khác và tồn tại được trong điều kiện khô hạn. Nhu cầu về những giống cỏ có năng suất, chất lượng tốt cho đồng cỏ chăn nuôi gia súc trở nên rất cấp thiết.
Năm 2004, trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi gia súc lớn được các chuyên gia Australia tặng 14 giống cỏ thảo. Những cỏ mang từ Australia thuộc 3 nhóm Brachiaria, Setaria và Digitaria. Những loại cỏ này đã được trồng ở các nước như: Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và một số nước ở châu Phi như: Kenya, Uganda cho kết quả tương đối tốt. Đây là kết quả bước đầu trồng thử nghiệm đánh giá khả năng sản xuất của chúng nhằm, cung cấp thêm thông tin về cỏ, giúp nông dân có cơ sở để chọn lựa giống cỏ phù hợp cho điều kiện sản xuất của mình.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
            Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn, Bến Cát, Bình Dương từ tháng 6/2004 đến tháng 4/2006, trên loại đất xám có 68% cát, pH: 4,45; 0,11% N; 0,06% K2O và 0,09% P2O5. Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại giai đoạn thí nghiệm tương ứng là 27,5oC–32,5oC và 1800 mm/năm. Giống cỏ dùng trong thí nghiệm có nguồn gốc từ bang Queensland, Australia, thuộc ba nhóm là Brachiaria, Digitaria và Setaria, cụ thể như sau:
Nhóm 1: nhóm cỏ Brachiaria
1.       Brachiaria brizantha CIAT 16835                (B. CIAT 16835)
2.      Brachiaria brizantha CIAT 6387                   (B. CIAT 6387)
3.      Brachiaria brizantha CIAT 6780                   (B. CIAT 6780)
4.      Brachiaria brizantha x ruziziensis                   (B. Brizantha x ruziziensis)
5.      Brachiaria brizantha cv.Toledo(CIAT 26110)         (B. Toledo)
6.      Brachiaria decumbens cv. Basilisk                 (B. decumben)
Nhóm 2: nhóm cỏ  Digitaria
1.      Digitaria milanjiana CPI 59777                                 (D. CPI 59777)
2.      Digitaria milanjiana cv. Strickland                             (D. Stricland)
3.      Digitaria milanjiana CPI 59755                                 (D. CPI 59755)
4.      Digitaria milanjiana cv. Jarra                                    (D. Jarra)
5.      Digitaria natalensis CPI 59752                                 (D. CPI 59752)
Nhóm 3: nhóm cỏ Setaria
1. Setaria sphacelata var. anceps x splendida cv. Splenda    (S. Splenda)
2. Setaria sphacelata var. splendida cv. Lampung                  (S. Lampung)
3. Setaria sphacelata var. splendida cv. Millaa Millaa         
(S. Millaa millaa)
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20 m2, tổng  số ô thí nghiệm là 42 ô. Trước khi trồng, các ô thí nghiệm được bón lót với mức phân chuồng: 30 tấn/ha, super lân Lâm Thao 200 kg/ha và KCl 50 kg/ha. Khoảng cách trồng 40 x 20 cm. Thời gian cắt lứa đầu là 60 ngày sau khi trồng, các lứa tiếp theo cắt với khoảng cách là 30 ngày. Cỏ Brachiaria và Digitaria cắt cách gốc 5 cm, cỏ Setaria cắt cách gốc 10 cm. 7-10 ngày sau cắt, cỏ được tưới 8 m3/ha phân Vedargo (4,86%N; 1,25% K2O5 và 0,12% P2O5).
Các chỉ tiêu theo dõi
-          Đặc điểm hình thái học của cỏ
-          Năng suất chất xanh, chất khô và protein
-          Thành phần hoá học của cỏ: vật chất khô (DM), đạm thô (CP), xơ trung tính (NDF), xơ axít (ADF), chất béo (EE) và khoáng tổng số (ash)
Số liệu thu được được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai, sử dụng General Linear Model Procedure of SAS (1998). Trung bình được so sánh bằng phương pháp Duncan’s New Multiple Range Test.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái học của các nhóm cỏ
Nhóm cỏ Brachiaria:  Cỏ có thân bò đường kính thân dao động từ 5 - 10 mm, thân phân đốt, các đốt có khả năng ra rễ. Lá màu xanh đậm có chiều dài khoảng 30- 45 cm, chiều rộng khoảng 2 cm. Trên lá và bẹ lá có lông tơ, ít. Cỏ Brachiaria brizantha cv. Toledo(CIAT 26110), thân cứng, lá có nhiều lông cứng hơn so với các cỏ còn lại trong nhóm. Nhóm cỏ này ra hoa 1 lần/năm vào gần cuối mùa mưa. Hạt hình bầu dục, màu vàng óng và có khoảng xấp xỉ 250 ngàn hạt/kg. Hạt của cỏ Brachiaria brizantha x ruziziensis tròn hơn và to hơn hạt của các loại khác.
Nhóm cỏ Digitaria:  Cỏ có thân bò, một số nhánh thân có màu tím, trên thân có phân đốt, các đốt có khả năng ra rễ. Đường kính thân khoảng 3-5 mm. Lá nhỏ dài khoảng 30 - 40 cm, rộng khoảng 1- 1,3 cm, có màu xanh nhạt, trên mặt lá có nhiều lông tơ mịn, đầu ngọn lá có màu nâu đỏ. Nhóm cỏ này ra hoa quanh năm, cụm hoa có hình chân chim, nhiều tầng. Hạt có màu xám trắng, kích thước nhỏ và dài, có khoảng 2 triệu hạt/kg. 
 Nhóm cỏ Setaria : Cỏ có thân đứng, mềm, dẹt, trên thân có phân đốt, các đốt sát gốc có màu nâu đỏ. Lá mềm, màu xanh xám dài khoảng 30-80 cm và rộng khoảng 2 cm. Đầu ngọn lá và hai bên mép lá có màu nâu tím, cụm hoa hình đuôi chuột. Cỏ ra hoa 1 lần/năm. Hạt giống như hạt kê nhưng nhỏ hơn, có khoảng 1,5 triệu hạt/kg.  
3.2 Năng suất chất xanh, chất khô và protein của ba nhóm cỏ thí nghiệm
Tất cả các giống cỏ thuộc nhóm Brachiaria và nhóm Digitaria đều phát triển tốt. Riêng nhóm Setaria  chỉ có giống S. Splenda phát triển và thu được số liệu. Nhóm cỏ giống Brachiaria cho năng suất chất xanh khá cao, từ 155-171 tấn/ha. B. Brizantha x ruziziensis và B. Toledo là 2 giống cỏ có năng suất tốt nhất trong nhóm. Nhóm cỏ giống Digitaria cho năng suất chất xanh từ 132-142 tấn/ha. Năng suất chất khô tương đương với nhóm Brachiaria (22-23 tấn/ha). D. JarraD. CPI 59755 có NSCX, NSCK và NSP tốt nhất trong nhóm cao hơn có ý nghĩa so với các giống khác trong nhóm (bảng 1).
Bảng 1. Năng suất chất xanh , chất khô và protein của các giống cỏ (tấn/ha)

Tên cỏ
NSCX
NSCK
NSPr
Mùa
mưa
Cả năm
Mùa mưa
Cả năm
Mùa
mưa
Cả năm
Nhóm Brachiaria
 
 
 
 
 
 
B. CIAT 16835
95,58a
159,52a
13,38ab
22,33ab
1,71ab
2,90d
B. CIAT 6780
93,42a
155,53a
13,17a
21,82a
1,36a
2,31a
B. Toledo
101,07b
167,26b
13,94b
23,16b
1,53b
2,55b
 B. Brizantha x ruziziensis
103,21b
171,08b
14,45c
24,03c
1,62c
2,69c
B. Decumben
93,02a
156,40a
12,74a
21,55a
1,44b
2,43b
B. CIAT 6387
96,89a
159,17a
13,47ab
22,29ab
1,43ab
2,36ab
Nhóm Digitaria
 
 
 
 
 
 
D. Jarra
92,00
141,55
14,81b
22,82b
1,66b
2,55b
D. CPI 59755
91,80
142,33
14,59b
22,85b
1,65b
2,58b
D. CPI 59752
91,49
139,90
14,82b
22,44ab
1,68b
2,56b
D. Strickland
89,03
136,97
14,15ab
21,93ab
1,59b
2,46b
D. CPI 59777
86,06
132,40
13,76a
21,18a
1,45a
2,25a
Nhóm Setaria
 
 
 
 
 
 
S. Splenda
 
120,58
 
18,07
 
1,93a

Các số trong một cột tận cùng bằng một chữ không khác biệt có ý nghĩa ở mức P<0,05
Ghi chú: NSCX = năng suất chất xanh; NSCK = năng suất chất khô; NSPr = năng suất protein
3.3 Thành phần hóa học của các giống cỏ thí nghiệm
Vật chất khô của cỏ cắt ở 30 ngày dao động từ 13,7 – 16,2 %, cao hơn so với cỏ voi (11,5%) cắt cùng thời điểm 30 ngày sau thu hoạch (Đinh Văn Cải và ctv, 2002). Vật chất khô của nhóm cỏ Digitaria có xu hướng cao hơn nhóm Brachiaria. Hàm lượng protein (CP) của các giống cỏ thí nghiệm từ 10,3- 12,8%, hàm lượng NDF từ 66,8 - 72,4%. So với kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cải và ctv (2002), thành phần dinh dưỡng của các loại cỏ này nằm trong mức trung bình khá.
Bảng 2. Thành phần hoá học của các giống cỏ thí nghiệm.

Tên cỏ
DM
CP
NDF
ADF
EE
Ash
(%)
---------------------------(% DM)----------------------
D. Jarra
16,1
11,2
68,9
41,9
2,5
7,0
D. CPI 59755
15,9
11,3
70,5
42,1
2,9
7,8
D. CPI 59752
16,2
11,4
69,2
40,6
2,5
8,8
D. Strickland
15,9
11,2
72,4
42,4
3,1
7,4
D. CPI 59777
16,0
10,6
71,2
43,7
2,3
7,7
B. CIAT 16835
14,0
12,8
67,4
35,5
5,0
6,8
B. CIAT 6780
14,1
10,3
69,5
38,5
4,4
6,7
B. Toledo
13,8
11,0
69,1
39,7
2,2
7,5
B. Brizantha x ruziziensis
14,0
11,2
66,8
37,2
2,6
7,3
B. decumben
13,7
11,3
69,4
39,2
4,9
5,7
B. CIAT 6387
13,9
10,6
70,4
39,4
5,1
5,6
S. Plenda
15,0
10,7
69,9
39,1
3,6
7,3

Phân tích tại phòng thí nghiệm Dinh dưỡng và thức ăn gia súc Viện KHKT NN miền Nam
3.4 Tỷ lệ lá của các nhóm cỏ
Gióng cỏ có tỷ lệ lá cao thì tỷ lệ lợi dụng thức ăn cũng cao và chất lượng cỏ cũng cao hơn so với giống có tỷ lệ lá thấp. Tỷ lệ lá trung bình của nhóm Brachiaria dao động từ 58,5 – 65,5% (bảng 3). Tỷ lệ lá của B. Toledo và B. Brizantha x ruziziensis là bằng nhau (65,5%) và cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các loại cỏ còn lại trong nhóm (P< 0,05). Tỷ lệ lá của nhóm cỏ Digitaria là từ 54,0 – 64,1% . Cỏ D. Jarra có tỷ lệ lá cao nhất (64,1%) và sai khác có ý nghĩa so với các loại cỏ còn lại. Thấp nhất là cỏ D. CPI 59752 (54,0%). Giống cỏ B. Toledo mặc dù có năng suất cao (167 tấn/ha) nhiều lá (65,5%) nhưng thân cây cỏ cứng hơn các giống khác. Đây cũng là điểm hạn chế của giống cỏ này.
Bảng 3. Tỷ lệ lá của cỏ của các giống cỏ thí nghiệm (%).

Tên giống cỏ
Lứa 2
Lứa 3
Lứa 4
Trung bình
Nhóm Brachiaria
 
 
 
 
B. CIAT 16835
58,3a
56,6a
60,6a
58,5a
B. CIAT 6780
61,3ab
63,3bc
60,6a
61,7a
B. Toledo
66,3b
66,6c
63,6b
65,5b
B. Brizantha x ruziziensis
65,6b
65,0c
66,0b
65,5b
B. Decumben
58,6a
61,2b
61,8ab
60,5a
B. CIAT 6387
61,6ab
61,6b
61,3ab
61,5a
Nhóm Digitaria
 
 
 
 
D. Jarra
64,0b
64,0b
64,3b
64,1c
D. CPI 59755
62,0ab
59,7b
63,0b
61,5b
D. CPI 59752
53,6a
53,5a
54,8a
54,0a
D. Strickland
57,6a
62,0b
62,0b
60,5b
D. CPI 59777
61,6ab
64,3b
59,3ab
61,8b
Nhóm Setaria
 
 
 
 
S. Splenda
 
 
 
37,7

Các số trong một cột tận cùng bằng một chữ không khác biệt có ý nghĩa ở mức P<0,05
Thí nghiệm chọn ra được 4 giống cỏ có triển vọng đại diện cho 3 nhóm giống. Số liệu so sánh 4 giống cỏ này cho thấy: cỏ B. Brizantha x ruziziensis có NSCX, NSCK và NSPr cao hơn đại diện của 2 nhóm còn lại. Đây là cỏ có triển vọng nhất trong 14 cỏ đem vào thử nghiệm. NSCX của cỏ này là 171,08 tấn/ha/năm cao hơn so với năng suất 157,0 tấn/ha/năm của cỏ Brachiaria brizantha (Bùi Quang Tuấn, 2004) và năng suất 96,4 tấn/ha/năm của Brachiaria decumben (Hoàng Thị Lảng và Lê Hòa Bình, 2004). Tương đương với năng suất cỏ Ruzi trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mận và ctv (2004). Năng suất chất khô của B Brizantha x ruziziensis trong nghiên cứu của chúng tôi 24,03 tấn/ha/năm, tương đương với số liệu nghiên cứu tại Mexico là 25 tấn/ha/năm (Tropicalforages). Tỷ lệ lá của B. Brizantha x ruziziensis là 65,5% trong khi đó tỷ lệ lá của cỏ Ruzi chỉ là 51,2% (Nguyễn Thị Mận và ctv, 2004). Đặc biệt theo thông tin từ Tropical Forage, B. Brizantha x ruziziensis có khả năng chịu hạn và chịu giẫm đạp tốt nên thích hợp với chăn thả và thu cắt bằng máy nên có thể chọn để bổ sung vào tập đoàn cây thức ăn xanh của vùng có khí hậu tương tự như Đông Nam Bộ.
Cỏ D. JarraD. CPI 59755 có năng suất thấp hơn B. Brizantha x ruziziensis. Tuy nhiên, ưu điểm của loại cỏ này là thân mềm, nhiều lá. Tỷ lệ lá của D. Jarra D. CPI 59755 tương ứng là 64,1% và 61,5% trong khi đó tỷ lệ lá của các loại cỏ đang trồng phổ biến hiện nay như cỏ Voi (King grass), cỏ Sả TD 58 và cỏ Ruzi chỉ đạt 37,5; 52,2 và 51,2% tương ứng cho từng loại cỏ. Như vậy, đây là ưu điểm đáng kể của hai loại cỏ Digitaria trong lựa chọn cho đồng cỏ chăn thả.
Nhóm cỏ Setaria không thích hợp với vùng đất này. Chỉ có giồng S. Splenda có thể tồn tại được nhưng phát triển chậm, năng suất và tỷ lệ lá kém hơn hẳn so với BrachiariaDigitaria. Nhìn chung, cỏ không thích hợp với điều kiện khí hậu của vùng thí nghiệm. Điều này phù hợp với nhận định Setaria là nhóm cỏ chỉ thích hợp và cho năng suất cao ở vùng đất ẩm (Horne And Stur, 1999).
4. KẾT LUẬN         
Giống cỏ B. Brizantha x ruziziensis (170 tấn/ha), giống D. Jarra D. CPI 59755 (140 tấn/ha) là những giống có năng suất cao nhiều lá (trên 60%), chịu hạn, thích hợp cho vùng đất Đông Nam bộ. Có triển vọng nhất so với 14 giống thử nghiệm, nên được phát trển rộng rãi ra sản xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
Bùi Quang Tuấn. 2004. Năng suất và giá trị dinh dưỡng của một số cây thức ăn gia súc trồng tại Gia Lâm – Hà Nội và Đan Phượng – Hà Tây. Tạp chí chăn nuôi. Số 10 (68)
Brachiaria spp. Hybrids. www.tropicalforages.Factsheet - Brachiaria spp_ hybrids.htm
Đinh Văn Cải, De Boever và Phùng Thị Lâm Dung. 2002. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu bò. Báo cáo khoa học, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam.
Hoàng Thị Lảng và Lê Hòa Bình.2004. Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh của các giống cây thức ăn để chọn lọc giống năng suất cao, chất lượng tốt dùng cho chăn nuôi ở khu vực. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, phần thức ăn và dinh dưỡng động vật. Nhà xuất bảng Nông nghiệp. trang 116-120
Nguyễn Thị Mận, Vũ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Thu Hồng. 2004. Trồng thử nghiệm một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại Trung tâm Nghiên cứu và Hhuấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn. Thông báo khoa học tại Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp Miền Nam.


[1]Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi số 8 {102} 2007
[2] Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn