Banner
Thông báo chiêu sinh
Lớp Tiểu giáo viên chăn nuôi bò thịt
Liên kết web
Video
Quảng cáo

CẢI TIẾN DI TRUYỀN GIONG DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ THANH LƯƠNG HUYỆN BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC

CẢI TIẾN DI TRUYỀN GIONG DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ THANH LƯƠNG HUYỆN BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC[1]
 
Đậu Văn Hải và Bùi Như Mác[2]
 
GENETIC IMPROVEMENT OF LOCAL GOAT BREED AT THANH LUONG
VILLAGE, BINH LONG DISTRICT, BINH PHUOC PROVINCE
 
Local (LL) goat breed (Bach Thao, de co and F1 (Bach Thao x de co)) and its crosses with F2: Boer x Bach thao (OBL), Saanen x Bach Thao (ABL), Alpine x Bach thao (SBL) anh purebred Bach thao (BBL) were reared at Thanh Luong Village, Binh Long District, Binh Phuoc Province.
This study compared the performances among these genetic groups. The results showed average daily gain in body weights from birth to 3 months of age were 105.4g for BBL,104.9g for OBL, 100.3 g for ABL, 97.1g for SBL and 84,5g for LL and then decreased to 12 months of age.
First kidding ages were 362.7 days forBBL, 399.5 days for OBL,385.2 days for ABL,387.5 days for SBL, and 359.5 days for LL
 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây chăn nuôi dê đã và đang phát triển rất mạnh trong cả nước nói chung và khu vực miền Nam nói riêng, nhất là các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi năm 2005 thì tốc độ phát triển chăn nuôi dê, cừu ở các tỉnh phía Nam từ năm 2000 đến 2005 là rất nhanh. Năm 2000 số lượng dê, cừu chỉ chiếm 27,50% (152.625 con) tổng số lượng trong cả nước (miền Đông Nam Bộ chiếm 3,00%), nhưng đã tăng lên 38,20% (2004) và năm 2005 là 44,35% (582.872 con) riêng miền Đông Nam Bộ chiếm 18,85% (247.741 con). Giá cả dê thịt trên thị trường tăng cao từ 15.000 đồng/kg (1998-1999) lên 30.000 – 35.000 đồng/kg (2005), năm 2006-2007 khoảng 25.000 – 28.000 đồng/kg thịt hơi. Bởi vậy, chăn nuôi dê đã thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Ngoài các loại vật nuôi khác, con dê cũng được Nhà nước quan tâm phát triển bằng nhiều giải pháp như chọn lọc, nhân thuần một số giống dê hiện có trong nước, nhập ngoại một số giống dê năng suất cao từ Mỹ, Úc, Ấn độ (Boer, Saanen, Alpine, Beetal, Jumnapari và Barbari). Với mục tiêu là nhân thuần, lai tạo giữa các giống dê ngoại nhập với nhau và giữa các giống ngoại nhập với dê nội nhằm tìm ra nhóm dê cho năng suất thịt, sữa cao thích nghi tốt với từng vùng sinh thái ở nước ta, để phục vụ cho sản xuất và nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông hộ. Với mục tiêu trên, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và kết quả như sau: tốc độ sinh trưởng của con lai F1 giữa giống Alpine và Saanen với Bách thảo cao hơn dê Bách thảo khoảng 25,00-30,00% (Lê Thanh Hải,1995). Lê Văn Thông (1999) cho biết, dê lai giữa dê Bách thảo với dê cỏ, trọng lượng dê cỏ chỉ bằng 67,10-73,60% so với dê lai, tỷ lệ thịt tinh của con lai cao hơn dê cỏ từ 100-150%. Nguyễn Thị Mai (2000) cho biết, mức độ cải tiến về trọng lượng của dê lai Alpine x Bách thảo và Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi là 41,66 – 50,00% so với dê Bách thảo, dê lai (Alpine x Bách thảo) cho năng suất sữa cao hơn Bách thảo là 58,43% và nhóm lai Bách thảo x (Alpine x Bách thảo) cao hơn Bách thảo là 39,33%. Đậu Văn Hải (2001), dê lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo có trọng lượng cao hơn dê Bách thảo thuần từ 5,00-20,00% qua các giai đoạn tuổi và sản lượng sữa cũng cao hơn dê Bách thảo từ 30,00-60,00% qua các tháng cho sữa trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Thông (2005), cho thấy dê lai F1 giữa giống Bách thảo với dê cỏ lúc 6 và 12 tháng tuổi có trọng lượng cao hơn dê cỏ 23,69-29,21% và 32,83-34,11% trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng. Con lai F1 (Boer x Bách Thảo) lúc 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng tuổi có trọng lượng tương ứng là: 15,88 – 16,75kg; 22,87 – 24,25 kg; 28,55 – 30,12 kg; 44,12 – 47,33 kg (Đậu Văn Hải, 2006).
Huyện Bình Long tỉnh Bình phước là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi dê, song chất lượng con giống chưa cao (phần lớn là giống dê cỏ), nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu: Chọn được nhóm dê lai thích nghi và phát triển tốt, có trọng lượng cao hơn đàn dê địa phương từ 25-30% và nâng cao kĩ thuật chăn nuôi dê cho kĩ thuật viên và nông hộ chăn nuôi dê.
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: 24 tháng từ tháng 8/2004 đến hết tháng 8/2006.
Địa điểm triển khai: đề tài được triển khai tại các nông hộ chăn nuôi dê của xã Thanh Lương và An Lộc huyện Bình Long tỉnh Bình Phước với điều kiện thời tiết khí hậu như sau:
ü      Khí hậu: mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phân biệt rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình cả năm 270C, thấp nhất 24,60C (tháng 12), cao nhất 290C (tháng 4).
ü      Lượng mưa: trung bình cả năm 2.305mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng11.
ü      Giờ nắng: tổng cộng 2.305 giờ/năm, số giờ năng thấp nhất 4giờ/ngày (tháng 4), cao nhất 9,3 giờ/ngày (tháng 1).
ü      Độ ẩm: trung bình năm 80,2%, thấp nhất 65% (tháng 3), cao nhất 90% (tháng 9)
2.2 Đối tượng nghiên cứu
-          Đàn dê đực giống: 15 con có trọng lượng từ 35-40 kg, từ 9-12 tháng tuổi bao gồm:
ü      Bách thảo thuần (BB): 5 con, dê lai Boer x Bách thảo (OB): 2 con, dê lai Alpine x Bách thảo (AB): 4 con và dê lai Saanen x Bách thảo (SB): 4 con.
ü      Số lượng dê đực giống được sinh ra tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyên Chăn nuôi Gia súc lớn có lý lịch rõ ràng, thực hiện tốt quy trình phòng bệnh truyền nhiễm (l mồm long móng và tụ huyết trùng).
ü      Dê đực giống lai có tỷ lệ máu lai trên 75% máu ngoại.
ü      Dê giống đã được chọn lọc thông qua việc đánh giá bố mẹ tốt và chọn cá thể trên cơ sở đánh giá ngoại hình thể chất, khả năng tăng trọng, khả năng chống chịu bệnh tật, kiểm tra phẩm chất tinh dịch và khả năng phối giống (nhảy trực tiếp).
-          Đàn dê con sinh ra do đàn dê đực giống lai và đực tại địa phương giao phối với dê cái địa phương theo công thức sau:

+ Dê đực lai Boer x Bách Thảo
(OB)
X
Dê cái địa phương
 
OBL
+ Dê đực Bách Thảo thuần
(BB)
X
Dê cái địa phương
BBL
+ Dê đực lai Saanen x Bách Thảo
(SB)
X
Dê cái địa phương
 
SBL
+ Dê đực lai Alpine x Bách Thảo
(AB)
X
Dê cái địa phương
ABL
+ Dê đực địa phương
(LL)
X
Dê cái địa phương
LL

Đàn dê cái nền giống địa phương (Bách Thảo, dê cỏ và dê lai Bách thảo với dê cỏ) được chọn đồng đều về giống, tuổi, trọng lượng và lứa đẻ.
2.3 Phương thức nuôi dưỡng
Dê được nuôi theo phương thức bán thâm canh. Thời gian chăn thả từ 4-6 giờ/ngày, về chuồng bổ sung thức ăn với khẩu phần như sau:
 Bảng 1a. Khẩu phần bổ sung cho đàn dê cái sinh sản

Giai đoạn
Ngày
ME
(Mcal)
Cỏ, lá cây
kg (50%)
Cám hỗn hợp (kg/ngày)
Nuôi con
75
3,2
3,0
0,5
Cạn sữa
125
2,0
3,0
0
Trước khi sanh
28
2,3
3,0
0,1

 Bảng 1b. Khẩu phần ăn cho dê con bú sữa

Tháng tuổi
Tăng trọng
g/ngày
Kg
Sữa
ml/ngày
Cỏ, lá
(kg/ngày)
Cám hỗn hợp
g/ngày
1
100
4,72
500
Tập
50
2
110
8,02
650
ăn
100
3
102
11,08
350
Cỏ
150

 Bảng 1c. Khẩu phần bổ sung cho đàn dê tơ và đực giống

Tháng tuổi
Tăng trọng
g/ngày
Trọng lượng kg
ME
Mcal
Cỏ, lá
kg (50%)
Cám hỗn hợp g/ngày
4
86
13,66
1,6
1,5
260
5
86
16,24
1,7
2,0
170
6
86
18,82
1,9
2,3
150
7
55
20,47
1,9
2,4
130
8
55
22,12
2,0
3,0
 
9
55
23,77
2,1
3,3
 
10
54
25,39
2,2
3,3
 
11
54
27,01
2,2
3,3
 
12
50
28,51
2,3
3,5
 
Dê đực giống
40-50
 
5,0
0,5

Vệ sinh phòng bệnh: Tiêm phòng bệnh truyền nhiễm (lỡ mồm long móng và tụ huyết trùng) 2 lần/năm. Định kỳ tẩy uế chuồng trại (15 ngày/lần), quét dọn sàn chuồng hàng ngày. Định kì tẩy lý sinh trùng đường ruột, đường máu cho dê.
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.4.1 Điều tra bổ sung nơi triển khai đề tài
Khảo sát tình hình chăn nuôi gia súc và chăn nuôi dê:
ü      Cơ cấu vật nuôi tại địa phương: trâu bò, dê và heo.
ü      Số lương dê, số hộ nuôi dê và qui mô đàn.
ü      Chất lượng và cơ cấu các giống dê hiện nuôi.
ü      Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và chuồng trại.
Số liệu sơ cấp được thu thập tại trạm Khuyến nông Bình Long và UBND xã. Số liệu thứ cấp phỏng vấn trực tiếp tại các nông hộ chăn nuôi (bằng phiếu điều tra).
2.4.2 Nâng cao kỹ thuật cho cán bộ địa phương và người chăn nuôi dê
-          Cán bộ thú y địa phương thành kỹ thuật viên chuyên ngành chăn nuôi và thú y về con dê: 26 người.
-          Tập huấn nông hộ chăn nuôi dê: nắm được kỹ thuật cơ bản về quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn dê: 5 lớp và mỗi lớp 20 người (100 ngày người).
Các chủ đề đào tạo: Kỹ thuật quản lý đàn, chọn giống, lai tạo và quản lý giống, kỹ thuật chuồng trại, xây dựng khẩu phần ăn cho dê, kỹ thuật trồng, bảo quản, chế biến và sử dụng thức ăn cho dê, một số bệnh thường gặp, phương pháp phòng và trị bệnh.
Kỹ thuật viên: học tập trung hai tuần tại Trung tâm Nghiên cứu & Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn. Đối tượng là cán bộ thú y địa phương tại các xã và huyện trong tỉnh Bình Phước.
Bà con nông dân: tập huấn tại nơi triển khai đề tài. Đối tượng là các hộ đang chăn nuôi dê và chuẩn bị chăn nuôi dê.
2.4.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật
-          Diễn biến về trọng lượng của đàn dê đực giống do đề tài cung cấp.
-          Tỷ lệ phối giống đậu thai của đàn dê đực giống.
-          Khả năng tăng trọng của đàn dê con.
-          Tuổi động dục lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm dê lai
-          Phương pháp: sử dụng các phương pháp thường qui trong nghiên cứu chăn nuôi.
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phương pháp GLM (General Linear Modal) trong phần mềm SAS (Statistical Analysis System). Trung bình bình phương nhỏ nhất (Least Square mean) đã được hiệu chỉnh cho các yếu tố không thí nghiệm sẽ được sử dụng để so sánh các giá trị trung bình.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra khảo sát
3.1.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tại xã Thanh Lương
Kết quả bảng 2 cho thấy, tốc độ tăng đàn gia súc của xã Thanh Lương từ năm 2004 đến 6 tháng đầu năm 2006 là rất nhanh, đạt từ 12,48% đến 288,80%. Trong đó đàn dê có tốc độ tăng đàn cao nhất và kế đến là đàn trâu và bò. Tuy nhiên, nếu so với năm 2005 đến 6 tháng đầu năm 2006 thì tốc độ phát triển của đàn heo giảm 5,79% và tốc độ tăng của đàn trâu là 8,21% và đàn bò là 1,00%.
Bảng 2. Diễn biến đàn gia súc xã Thanh Lương

Tt
Loại gia súc
Đơn vị tính
Năm
2004
Năm
2005
Tháng 6/
2006
Tốc độ tăng
2004-2006 (%)
1
con
250
784
972
288,80
2
con
1737
3109
3140
80,77
3
Trâu
con
100
195
211
111,00
4
Heo
con
2940
4011
3307
12,48
TỔNG ĐÀN
con
5020
8099
7630
51,99

3.1.2 Tình hình chăn nuôi dê tại xã Thanh Lương
Bảng 3. Số lượng, qui mô và cơ cấu giống dê

Tt
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Năm 2004
Năm 2005
6/2006
1
Tổng đàn dê
con
250
784
972
2
Số hộ nuôi dê
con
32
85
105
3
Qui mô
con/hộ
7,8
9,2
9,3
 
< 10 con
con/hộ
25
45
51
 
10-20 con
hộ
4
25
35
 
20-30 con
hộ
3
11
14
 
>30 con
hộ
0
4
5
4
Cơ cấu giống
 
 
 
 
 
Dê cỏ
%
85,20
64,35
57,61
 
Bách thảo
%
4,74
11,56
12,14
 
Dê lai các loại
%
10,06
24,09
30,25

Số nông hộ nuôi dê tăng lên đáng kể từ 32 hộ năm 2004 lên 85 hộ năm 2005 và 105 năm hộ tháng 6/2006. Qui mô chăn nuôi dê cũng được tăng lên, bình quân số con/hộ qua các năm là 7,8 con; 9,2 con và 9,3 con. Tháng 6/2006 qui mô chăn nuôi dê dưới 10 con/hộ là cao nhất chiếm 48,57%; kế đến là qui mô từ 10-20 con/hộ chiếm 33,33%. Qui mô đàn từ 20-30 con/hộ và trên 30 con/hộ cũng tăng dần qua các năm, tuy nhiên số nông hộ chăn nuôi dê với qui mô này còn ít, nguyên nhân do diện tích đất đai ngày càng thu hẹp không có điều kiện chăn thả.
Cơ cấu giống dê, năm 2004 tỷ lệ dê cỏ chiếm rất cao trong tổng đàn (85,20%), dê Bách thảo và dê lai các loại chỉ chiếm 4,74-10,06%; đến 6/2006 thì tỷ lệ đàn dê Bách thảo đã tăng lên chiếm 12,10% và dê lai các loại là 30,25%. Số lượng dê lai tăng lên là do số dê lai được sinh ra từ các dê đực giống của các điểm nghiên cứu của đề tài, một số ít cũng được sinh ra từ một số đực giống mà các nông hộ tự mua từ nơi khác về.
Bảng 4. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và chuồng trại

TT
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
2004
6/2006
1
Phương thức chăn nuôi
 
 
 
 
- Thâm canh
%
0
0
 
- Bán thâm canh
%
18,75
86,67
 
- Quảng canh
%
81,25
13,33
2
Bổ sung thức ăn tại chuồng
 
 
 
 
- Cám lau, bắp, khoai, sắn ...
%
9,38
52,38
 
- Cỏ trồng
%
0
85,71
 
- Các loại cây, cỏ khác
%
18,75
59,05
 
- Đá liếm
%
0
34,29
 
- Muối
%
46,88
90,48
 
- Nước uống tại chuồng
%
15,63
71,43
3
Vệ sinh phòng bệnh
 
 
 
3.1
Vệ sinh chuồng trại
 
 
 
 
- Hàng ngày
%
0
23,81
 
- Hàng tuần
%
6,25
35,24
 
- Hàng tháng
%
31,25
26,66
 
- Sau hơn1 tháng
%
62,50
14,29
3.2
Phòng bệnh truyền nhiễm và kí sinh trùng
 
 
 
 
- Lở mồm long móng
%
0
71,43
 
- Tụ huyết trùng
%
0
42,87
 
- Kí sinh trùng đường máu
%
0
47,62
 
- Kí sinh trùng đường ruột
%
0
53,33
4
Chuồng trại
 
 
 
 
- Không phân ô (chung cả đàn)
%
78,13
14,29
 
- Có phân ô (hai ô trở lên)
%
21,87
85,71
 
- Có sàn chuồng
%
87,50
98,10
 
- Không sàn
%
12,50
1,90
 
- Có máng ăn tại chuồng
%
9,38
89,52
 
- Không có máng ăn
%
90,62
10,48
 
- Có che chắn xung quanh
%
6,25
86,67
 
- Không che chắn xung quanh
%
93,75
13,33
5
Diện tích cỏ trồng
Ha
3,0
20,0

Ghi chú: n = 32 (2004) và n=105 (6/2006)
Kết quả bảng 4 cho thấy:
Phương thức chăn nuôi theo kiểu quảng canh chiếm 81,25% (2004), vì lúc bấy giờ phần lớn là giống dê cỏ (85,20%). Đến tháng 6/2006 số lượng dê Bách thảo và dê lai trong đàn đã tăng lên (42,39%) nên phương thức chăn nuôi dê được chuyển đổi từ chăn nuôi quảng canh sang chăn nuôi bán thâm canh (86,67%). Tuy nhiên trong xã chưa có nông hộ nào chăn nuôi dê theo phương thức thâm canh.
Bổ sung thức ăn tại chuồng: năm 2004 giống dê cỏ chiếm 85,20%, nên số hộ bổ sung thức ăn tại chuồng chỉ chiếm 9,38-18,75% (tập trung các hộ nuôi dê Bách thảo); Các nông hộ không bổ sung đá liếm, chỉ bổ sung muối 46,88% (treo trên chuồng, dê liếm tự do). Tháng 6/2006 nhiều hộ đã sử dụng đá liếm, các giống cỏ trồng và các loại thực ăn khác bổ sung tại chuồng, vì vậy đã góp phần vào việc nâng cao năng suất và chất lượng đàn dê.
Năm 2004 việc vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày và hàng tuần rất ít được các nông hộ thực hiện (6,25%); vệ sinh hàng tháng hoặc lâu hơn nữa (83,75%). Tháng 6/2006 việc vệ sinh chuồng trại hàng ngày và hàng tuần đã được các nông hộ quan tâm hơn (23,81% và 35,24%).
Công tác phòng trị bệnh cho dê ngày càng được các nông hộ quan tâm thực hiện. Từ năm 2004 đến tháng 6/2006 tỷ lệ tiêm phòng đàn dê của các nộng hộ tăng lên đáng kể như: tiêm phòng lở mồm long móng đạt 0% (2004)–71,43% (2006); tụ huyết trùng 0% (2004)-42,87% (2006). Việc thực hiện phòng bệnh ký sinh trùng đường ruột và đường máu cũng được các nông hộ hưởng ứng tham gia và đạt tỷ lệ 47,62% (đường máu) và 53,33% (đường ruột).
Kết quả điều tra cho thấy việc xây dựng chuồng trại nuôi dê đã được bà con quan tâm, số chuồng có phân ô từ 21,87% (2004) tăng lên 85,71% (2006). Tỷ lệ chuồng nuôi có sàn cũng được nâng lên từ 87,50% (2004) đến 98,10% (2006) và số chuồng nuôi dê có máng ăn trong chuồng vào tháng 6/2006 chiếm tỷ lệ 89,62%.Diện tích trồng cây, cỏ làm thức ăn cho dê cũng được tăng lên đáng kể từ 3ha (2004)-20 ha (6/2006).
Tóm lại với kết quả trên là một tín hiệu rất khả quan cho việc phát triển chăn nuôi gia súc nói chung và nuôi dê nói riêng tại địa phương. Dưới tác động của đề tài, các yếu tố kỹ thuật được chuyển tải hiệu quả cho các nông hộ chăn nuôi dê.
3.2 Đào tạo, tập huấn kỹ thuật
Trong công tác nghiên cứu ứng dụng có người dân cùng tham gia thì ngoài việc xây dựng các mô hình: giống, thức ăn, nuôi dưỡng thì việc đào tạo, huấn luyện cán bộ kỹ thuật, nông dân chăn nuôi là việc làm rất cần thiết. Vì đây là đội ngũ sẽ góp phần rất lớn cho sự thành công của đề tài và khi kết thúc đề tài thì lực lượng này sẽ tiếp tục tham gia vào sự phát triển chăn nuôi dê tại địa phương. Kết quả đào tạo, tập huấn kỹ thuật được thể hiện như sau:
            Số lượng kỹ thuật viên được đào tạo là 26 cán bộ thú y cấp xã, huyện và cấp tỉnh đạt 100% kế hoạch đề ra.
            Tập huấn kỹ thuật chăn nuôi dê cho bà con nông dân đạt 155% kế hoạch   
Một số chuyên đề tập huấn cho các nông hộ: Giới thiệu một số giống dê hiện có tại Việt Nam, công tác lai tạo và quản lý giống trong chăn nuôi dê theo các phương thức chăn nuôi khác nhau; Giới thiệu một số loại cây, cỏ và kỹ thuật sản xuất thức ăn cho dê; Kỹ thuật chuồng trại và chăm sóc nuôi dưỡng đàn dê; Chăm sóc sức khỏe và vệ sinh chuồng trại cho dê; Một số bệnh thường gặp và phương pháp phòng bệnh.
Kết quả của việc tập huấn là trình độ ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi dê của các nông hộ đã được nâng cao, hạn chế tối đa các trường hợp về bệnh, suy nhược cơ thể, nâng cao tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất của đàn dê. Mặt khác, các nông hộ cũng đã thay đổi dần phương thức chăn nuôi dê từ quảng canh sang chăn nuôi bán thâm canh (theo kết quả điều tra mục 3.1.2).
 
 
 
3.3 Một số chỉ tiêu kĩ thuật trên đàn dê
3.3.1 Khả năng sản xuất của dê đực giống
Trọng lượng trung bình của đàn dê đực giống khi chuyển giao là 39,47 kg/con. Trong đó, cao nhất là nhóm OB 48,00 kg; kế đến là nhóm lai SB 41,50 kg và thấp nhất là giống Bách thảo thuần 33,80 kg (P<0,05).
 Bảng 5. Trọng lượng, tuổi của dê đực giống theo cơ cấu giống khi chuyển giao

Tt
Nhóm đực giống
N
Trọng lượng
(kg/con)
Tuổi khi giao
(tháng)
1
Bách thảo (BB)
5
33,80c ± 0,7
11,40
2
Boer x Bách thảo (OB)
2
48,00a ± 0,5
11,10
3
Alpine x Bách thảo (AB)
4
37,75bc ± 0,5
11,80
4
Saanen x Bách thảo (SB)
4
41,50b ± 0,6
10,10

Các số trong cùng một cột mang chữ khác nhau sai khác có ý nghĩa ở mức P<0,05
Tuổi trung bình của các nhóm đực giống dao động từ 10,10-11,80 tháng tuổi (P>0,05) và tuổi trung bình toàn đàn là 11,30 tháng.Việc sử dụng đực giống ở độ tuổi này sẽ được khai thác lâu dài góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho đề tài nói riêng và nông hộ chăn nuôi dê nói chung.
 Bảng 6. Diễn biến trọng lượng và tỷ lệ phối giống đậu thai

Tt
Chỉ tiêu
Đơn vị
Nhóm đực giống
T. bình
 
 
Tính
BB
OB
AB
SB
chung
1
Diễn biến trọng lượng
 
 
 
 
 
 
 
- Trọng lượng 7/1/05
Kg
33,80
48,00
37,75
41,50
39,47
 
- Trọng lượng 30/7/06
Kg
52,80
75,00
57,50
54,50
57,47
 
- Trọng lượng tăng
Kg
19,00
27,00
19,75
13,00
18,00
2
Phối giống đậu thai lần 1
 
 
 
 
 
 
 
- Số dê cái được phối
Con
218
105
173
138
634
 
- Số lượng dê cái sinh
Con
198
93
150
115
556
 
- Tỷ lệ đậu thai
%
90,83
88,57
86,71
83,33
87,70

Ghi chú: BB giống Bách thảo; OB đực lai (Boer x Bách thảo); AB là đực lai (Alpine x Bách thảo) và SB là đực lai (Saanen x Bách thảo).
Đàn dê đực giống chuyển giao có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, trọng lượng ở các nhóm dê đều tăng từ 13,00 kg đến 27,00 kg/con. Trọng lượng tăng bình quân của nhóm dê đực giống là 18 kg/con, trong đó tăng trọng thấp nhất là nhóm lai SB và cao nhất là nhóm OB.
Tỷ lệ phối giống đậu thai lần đầu của dê đực giống Bách thảo là cao nhất (90,83%), kế đến là nhóm lai OB và thấp nhất là nhóm lai SB chỉ đạt 83,33%. Tính trung bình cho cả đàn đực giống thì tỷ lệ phối giống đậu thai lần đầu là 87,70%.
Kết quả phối giống trực tiếp của dê đực giống Bách thảo, Alpine và dê đực lai giữa giống Alpine với Bách thảo lần lượt là 77,99%; 55,97% và 66,66% (Nguyễn Thị Mai, 2000). Theo kết quả nghiên cứu của Đậu Văn Hải (2001), tỷ lệ phối giống đậu thai lần thứ nhất bằng phương pháp nhảy trực tiếp của giống Bách thảo và giống Barbari đạt từ 85,71-90,00%.
Số dê cái được phối giống từ đực giống OB là cao nhất 52,5 lượt phối/đực, kế đến là nhóm đực giống BB 43,6 lượt phối/đực, tiếp theo là nhóm AB 43,3 lượt phối/đực và đực giống SB được sử dụng ít nhất 34,5 lượt phối/đực giống. Điều này cho thấy những nông hộ chăn nuôi dê thích sử dụng đực giống hướng thịt để lai tạo đàn dê của gia đình.
 
 
3.3.2 Khả năng tăng trọng của đàn dê con
Bảng 7. Diễn biến trọng lượng của đàn dê lai sinh ra (kg)

Tt
Tuổi
Nhóm dê
Trung
bình
Dê địa
phương
 
 
BBL
OBL
ABL
SBL
chung
LL
1
Sơ sinh
 
 
 
 
 
 
 
- Tổng         n
320
143
229
152
844
150
 
X ± SE
1,73
±0,56
1,71
±0,48
1,72
±0,45
1,71
±0,66
1,72a
±0,59
1,59b
±0,32
 
- Đực
1,79
±0,49
1,77
±0,46
1,78
±0,45
1,76
±0,62
1,78
±0,56
1,66
±0,26
 
- Cái
1,65
±0,50
1,64
±0,45
1,64
±0,36
1,64
±0,64
1,64
±0,55
1,50
±0,31
2
3 tháng
 
- Tổng         n
198
86
168
114
566
115
 
X ± SE
11,22
±0,76
11,15
±0,56
10,75
±0,58
10,45
±0,67
11,08a
±0,77
9,20b
±0,46
 
- Đực
11,74
±0,68
11,56
±0,54
11,20
±0,56
10,88
±0,62
11,45
±0,75
9,85
±0,45
 
- Cái
10,10
±0,56
10,08
±0,52
9,80
±0,57
9,78
±0,66
9,90
±0,59
8,25
±0,41
3
6 tháng
 
- Tổng         n
150
47
112
65
374
75
 
X ± SE
18,98
±0,75
18,96
±0,69
18,85
±0,68
18,45
±0,71
18,82a
±0,76
14,96b
±0,54
 
- Đực
19,89
±0,74
20,05
±0,68
19,88
±0,66
19,54
±0,68
19,84
±0,72
16,20
±0,53
 
- Cái
16,67
±0,68
16,65
±0,64
16,25
±0,59
16,07
±0,63
16,52
±0,69
13,50
±0,54
4
9 tháng
 
- Tổng         n
70
25
65
31
191
46
 
X ± SE
23,98
±0,77
23,85
±0,72
23,12
±0,68
22,75
±0,71
23,76a
±0,78
18,97b
±0,58
 
- Đực
25,26
±0,75
25,20
±0,69
24,85
±0,67
24,24
±0,68
24,98
±0,76
20,50
±0,57
 
- Cái
21,88
±0,67
21,55
±0,66
21,16
±0,63
20,78
±0,62
21,50
±0,65
17,20
±0,54
5
12 tháng
 
- Tổng         n
35
19
21
18
93
32
 
X ± SE
28,68
±0,82
28,65
±0,88
28,12
±0,79
27,25
±0,75
28,48a
±0,86
21,15b
±0,68
 
- Đực
30,17
±0,79
30,23
±0,85
29,85
±0,76
29,30
±0,73
29,92
±0,83
22,40
±0,65
 
- Cái
25,74
±0,78
25,72
±0,81
25,40
±0,70
24,88
±0,69
25,58
±0,75
19,46
±0,59

Trọng lượng dê đực cao hơn dê cái qua các tháng tuổi. Trọng lượng trung bình của hai nhóm dê lai BBL và OBL có xu hướng cao hơn hai nhóm dê lai ABL và SBL nhưng sai khác không có ý nghĩa. Nhóm dê lai SBL có trọng lượng thấp nhất.
Trọng lượng trung bình của đàn dê lai sinh ra lúc 3,6,9 và 12 tháng tuổi lần lượt là 11,08 kg; 18,82 kg; 23,76 kg và 28,84 kg cao hơn trọng lượng dê địa phương cùng tháng tuổi sai khác này có ý nghĩa ở mức P<0,05.
Trọng lượng dê lai F1 giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo lúc 6 tháng tuổi là 17,76-18,17 kg (Đậu Văn Hải, 2001). Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Thông (2005), trọng lượng của đàn dê Bách thảo và dê cỏ lúc 3 tháng tuổi là 12,50-13,90 kg và 8,30-10,02kg; lúc 6 tháng tuổi là 21,87-25,33 kg và 13,83-16,97 kg và lúc 9 tháng tuổi là 27,78-32,55 kg và 17,60-21,00 kg. Trọng lượng của đàn dê lai F1 giữa giống Boer với Bách thảo lúc 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng tuổi lần lượt 15,90 kg; 22,91 và 28,59 kg (Đậu Văn Hải, 2006).
Kết quả trên cho thấy, đàn dê lai có trọng lượng tương đương với kết quả nghiên cứu khác. Tuy nhiên nhóm dê lai OBL có trọng lượng thấp hơn kết quả nghiên cứu của Đậu Văn Hải (2006) nguyên nhân do sự khác biệt về nguồn nguyên liệu lai tạo (đàn cái nền và dê đực giống).
Trọng lượng sơ sinh, 3 tháng tuổi của đàn dê lai cao hơn trọng lượng sơ sinh của đàn dê địa phương 8,18% (7,55-8,81%) - 20,43% (13,59-21,96%). Tương tự trọng lượng 6 tháng và 9 tháng tuổi cao hơn đàn dê địa phương lần lượt là 25,80% (23,33-26,87%) và 25,25% (19,93-26,41%);
Khả năng cải tiến về trọng lượng của đàn dê lai sinh ra so với đàn dê địa phương cao nhất là lúc 12 tháng tuổi đạt 134,66% (128,84-135,60%). Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của dê lai F1 giữa giống Jumnapari, Beetal với dê cỏ có mức cải tiến về trọng lượng so với dê cỏ từ 7,00-66,00% với dê đực và với dê cái là 29,00-72,00% (Đinh Văn Bình, 1997). Theo nghiên cứu của Lê Văn Thông (2005) thì dê lai F1 giữa giống Bách thảo với dê cỏ có trọng lượng cao hơn dê cỏ qua các tháng tuổi 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi lần lượt là 11,86-22,05%; 23,69-29,21%; 28,86-29,60% và 32,83-34,11%. Trọng lượng dê lai F1 giữa giống Boer với Bách thảo có trọng lượng cao hơn Bách thảo từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi là 34,92-74,58% (Đậu Văn Hải, 2006).
Kết quả trên cho thấy, dê lai được tạo ra do đực giống Bách thảo và đực lai OB phối giống có khả năng cải tiến trọng lượng cho đàn dê địa phương tốt hơn hai nhóm đực lai AB và SB.
3.3.3 Khả năng sinh sản
Tuổi động dục lần đầu của các nhóm dê lai BBL, OBL, ABL và SBL biến động từ 195,4 ngày đến 214,6 ngày sai khác không có ý nghĩa. Tuổi động dục lần đầu của toàn đàn dê lai sinh trung bình là 210,4 ngày cao hơn dê cỏ là 21,8 ngày sai khác có ý nghĩa ở mức P<0,05.
 Bảng 8. Tuổi động dục và tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm dê lai

Tt
Chỉ tiêu
Nhóm dê
Trung
bình
Dê địa
Phương
 
 
BBL
OBL
ABL
SBL
chung
LL
1
Tuổi động dục lần đầu (ngày)
 
N
22
16
14
13
65
45
 
X ± SE
195,4
± 8,5
220,8
± 10,2
214,6
±11,2
218,3
± 10,9
210,4a
± 10,5
188,6b
± 8,1
2
Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
 
N
17
13
11
9
50
40
 
X ± SE
362,7b
± 8,6
399,4a
± 10,4
385,2a
± 11,3
387,5a
± 11,2
381,7a
± 10,6
359,5b
± 8,2

Tuổi đẻ lần đầu trung bình của đàn dê lai là 381,7 ngày. Trong đó, tuổi đẻ lứa đầu của ba nhóm dê lai OBL, ABL và SBL lần lượt là 399,4 ngày; 385,2 ngày và 387,5 ngày cao hơn nhóm lai BBL (362 ngày) và dê địa phương (359,5 ngày) sai khác này có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,05. Theo Lê Văn Thông (2005), tuổi đẻ lứa đầu của dê Bách thảo và dê cỏ lần lượt là 366,3 ngày và 356,4 ngày. Tuổi động dục lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm dê BB và OB dao động từ 209,75 – 225,59 ngày và 410,0-421,6 ngày (Đậu Văn Hải, 2006).
3.3.4 Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống của đàn dê lai giai đoạn từ sơ sinh-3 tháng tuổi là thấp nhất, biến động từ 87,05% đến 90,35%. Trung bình của toàn đàn là 88,95% thấp hơn tỷ lệ nuôi sống của đàn dê địa phương (92,58%).
Tỷ lệ nuôi sống của dê lai tăng dần qua các mốc tuổi và cao nhất là giai đoạn từ 10-12 tháng tuổi (93,47-99,56%), tỷ lệ nuôi sống toàn đàn trong giai đoạn này là 96,78% thấp hơn đàn dê địa phương (99,62%). Theo Đậu Văn Hải (2001), tỷ lệ nuôi sống của các nhóm dê lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo là trên 90,0%. Cao nhất là giai đoạn 12-24 tháng tuổi (98,%), kế tiếp 6-12 tháng tuổi (trên 95%) và thấp nhất là giai đoạn sơ sinh-6 tháng tuổi (90,0%). 
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi dê rất cần thiết cho việc triển khai các đề tài ứng dụng có người nông dân tham gia. Kết quả đã làm thay đổi dần tập quán chăn nuôi dê truyền thống sang chăn nuôi bán thâm canh, góp phần nâng cao thu nhập cải thiện đời sống.
Đàn dê đực giống (Bách thảo thuần, dê lai giữa giống Boer, Alpine, Saanen với Bách thảo) và con lai của chúng với đàn dê cái địa phương thích nghi và phát triển tốt tại Thanh Lương và An Lộc Bình Long tỉnh Bình Phước. Tỷ lệ nuôi sống của đàn dê dực giống trên 90,0% và của đàn dê lai sinh ra là 88,95-96,78%.
Trọng lượng của đàn dê lai cao hơn đàn dê địa phương 20,43-34,66% (3-12 tháng tuổi). Trong đó đàn dê con sinh ra do dê đực giống Bách thảo và đực lai (Boer x Bách thảo) phối giống có trọng lượng cao hơn đàn dê tại địa phương 21,20-35,60%.
Tuổi đẻ lứa đầu của nhóm dê lai do đực giống Bách thảo giao phối tạo ra thấp hơn các nhóm lai khác
Tiếp tục chương trình lai tạo để cải tiến chất lượng đàn dê địa phương theo hướng sử dụng đực giống Bách thảo thuần hoặc đực lai giống ngoại hướng thịt (con lai Boer x Bách thảo) phối với dê cái địa phương.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
Lê Thanh Hải và cộng sự,1995. Thị trường sữa dê và khả năng cải tiến sức sản xuất của các giống dê sữa Bách thảo ở Miền Nam thông qua lai tạo. Thông báo khoa học, Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam. TP Hồ Chí Minh tháng 5/1995, 14 trang.
Đậu Văn Hải, 2001. Khảo sát khả năng sản xuất của một số nhóm dê lai F1 giữa giống Saanen, Alpine với Bách thảo và Barbari tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Chăn nuôi Sông Bé. Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh 2001.
Đậu Văn Hải, 2006. Khảo sát khả năng sản xuất của dê lai hướng thịt giữa giống Boer với Bách thảo. Hội nghị khoa học Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam. TP Hồ Chí Minh, tháng 6/2006
Nguyễn Thị Mai, 2000. Chọn lọc nhân thuần dê Bách thảo và thử nghiệm lai pha máu với dê sữa cao sản ngoại. Luận án Tiến sĩ nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh 2000.
Vũ Thị Kim Thoa, 2000. Khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống cỏ sả Panicum maximum cv TD58 trên vùng đất xám Bình Dương. Hội nghị khoa học Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam. TP Hồ Chí Minh, tháng 5/2000
Lê Văn Thông, Lê Viết Ly và cộng sự, 1999. So sánh khả năng sản xuất của dê cỏ, Bách thảo và con lai giữa chúng tại Thanh Ninh. Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y 1998-1999 (phần chăn nuôi GS). Trang 58-81.
Lê Văn Thông, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm của giống dê cỏ và kết quả lai tạo với giống dê Bách thảo tại Vùng Thanh Ninh. Luận Văn Tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành chăn nuôi động vật nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam 2005.
Báo cáo tổng kết chăn nuôi giai đoạn 2001-2005 và định hướng phát triển 2006-2015. Cục Chăn nuôi-Bộ Nông nghiệp và PTNT. Hà nội, tháng 6/2006. trang 185-207.
 


[1] Hội nghị Khoa học tỉnh Bình Phước tháng 7-2007
[2] Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi Gia súc lớn